Thực hiện Nghị quyết số 41- NQ/TW (Nghị quyết 41) ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các cấp, các ngành và sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị, công tác BVMT trên địa bàn tỉnh đã thu được những kết quả khả quan.
Để triển khai Nghị quyết 41, UBND tỉnh đã ban hành các văn bản để cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết: Kế hoạch số 1137/KHUB ngày 20/5/2005 về thực hiện Nghị quyết 41; Quy chế BVMT tỉnh Quảng Ninh; Quyết định số 315/QĐ-UBND “Về việc phê duyệt kế hoạch kiểm soát ô nhiễm môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010” kèm theo 19 chương trình, đề án, dự án được giao cho các ngành, các địa phương trong tỉnh để triển khai thực hiện; Chỉ thị số 07/CT-UBND ngày 22/6/2006 của UBND tỉnh về tăng cường BVMT sinh thái vịnh Hạ Long; Quyết định số 498/2007/QĐ-UBND ngày 7/2/2007 của UBND tỉnh về việc “Ban hành Quy chế quản lý vịnh Hạ Long; Quyết định 130/QĐ - UBND ngày 11/1/2008 UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án Quản lý tài nguyên và BVMT trong hoạt động khoáng sản.
Cùng với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tỉnh đã tiến hành lập các quy hoạch về BVMT: “Quy hoạch BVMT thị xã Uông Bí đến năm 2010, định hướng đến năm 2015”, “Quy hoạch BVMT của vùng Hạ Long - Cẩm Phả - Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010”.
Xác định công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về BVMT là nhiệm vụ trọng tâm góp phần tạo sự chuyển biến về nhận thức và nâng cao ý thức cho cả cộng đồng, tỉnh chỉ đạo tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh trong việc đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ TN&MT. Hàng năm đều xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện các hoạt động thiết thực hưởng ứng các ngày lễ về môi trường, tổ chức các lớp tập huấn về BVMT cho cán bộ chủ chốt và cán bộ làm công tác quản lý môi trường, các đoàn thể chính trị - xã hội, các ngành, địa phương.
Để xử lý các điểm ô nhiễm môi trường bức xúc, tỉnh đã chỉ đạo triển khai các dự án cải tạo, xử lý ô nhiễm, nạo vét các lưu vực sông, hồ đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do tình trạng khai thác than tập trung chủ yếu ở Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều, Hoành Bồ, sử dụng nguồn vốn thu phí BVMT từ hoạt động khai thác khoáng sản. Cung cấp nước sạch và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường một số khu vực dân cư đô thị bị ảnh hưởng mạnh do hoạt động khoáng sản và khu vực nông thôn, đặc biệt là các xã thuộc đảo Hà Nam - huyện Yên Hưng. Lập chương trình nạo vét tiếp các trục kênh tiêu của khu vực Hà Nam để khai thông dòng chảy cải thiện môi trường; Quy hoạch xây dựng mới, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước thị trấn Quảng Yên, khu vực Hà Nam và một số xã để khắc phục tình trạng ngập úng, nước đọng gây ô nhiễm môi trường tại các khu dân cư.
Tỉnh cũng chỉ đạo quyết liệt các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT. Lập danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đề xuất biện pháp xử lý theo Thông tư số 07/2007/TTBTNMT ngày 3/7/2007 của Bộ TN&MT về “Hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý”. Lập báo cáo quan trắc môi trường của tỉnh hàng năm, phê duyệt mạng điểm quan trắc môi trường của tỉnh đến năm 2020.
Tăng cường đầu tư cải tạo hệ thống công trình xử lý nước thải, rác thải các khu du lịch như khu vực Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, di tích Yên Tử... Phát triển hoạt động trồng cây xanh đường phố trong tất cả các đô thị, đầu tư xây dựng nghĩa trang nhân dân ở hầu hết các trung tâm đô thị lớn như Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí.
Công tác xã hội hóa về BVMT, đặc biệt là vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rác thải đã được quan tâm, hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có một số đơn vị tư nhân thực hiện hoạt động vệ sinh môi trường tích cực như: Công ty TNHH MTV An Lạc Viên - INDEVCO, Công ty CP Thương mại và dịch vụ Uông Bí... Triển khai nhiều dự án xây dựng, cải tạo, nạo vét hệ thống thoát nước khu dân cư nhằm khắc phục lũ lụt và đảm bảo vệ sinh môi trường.

Khai thác than phải đi đôi với BVMT và hoàn nguyên.
Tăng cường bảo vệ và cải thiện môi trường các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hoàn thiện các tuyến đường chuyên dùng, thay đổi phương thức vận tải than bằng băng tải ống, chấm dứt việc vận chuyển than trên vịnh Hạ Long và Quốc lộ 18; Xây dựng và đưa vào vận hành gần 20 trạm xử lý nước thải mỏ; Nhiều đơn vị thực hiện tốt các giải pháp BVMT như Công ty CP than Hà Lầm - TKV, Công ty tuyển than Cửa Ông, Xí nghiệp than Khe Sim, Công ty tuyển than Hòn Gai - TKV, Công ty xăng dầu B12 tham dự giải Cúp vàng sự nghiệp BVMT. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động tạm nhập tái xuất và nhập khẩu phế liệu.
Đối với khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, vận động nhân dân thay đổi tập quán sinh hoạt thiếu vệ sinh, hạn chế việc đổ rác sinh hoạt bừa bãi, đốt rừng làm nương, đánh bắt hủy diệt các nguồn lợi thủy sản; xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, xây dựng hương ước, quy ước với BVMT sinh thái; hạn chế hoạt động các lò gạch thủ công ở khu dân cư, khuyến khích nhân dân phát triển hầm khí biogas để tận dụng năng lượng BVMT, hạn chế sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp... Di dời, đóng cửa các bãi rác không đảm bảo vệ sinh tại các khu đô thị.
Thực hiện tốt công tác bảo tồn đa dạng sinh học, tăng cường quản lý, bảo vệ phát triển rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn. Phê duyệt Quy hoạch trồng rừng ngập mặn và phân loại 3 loại rừng. Thực hiện các biện pháp ngăn chặn tình hình khai thác, săn bắt kinh doanh các loài động thực vật và khai thác thủy hải sản bằng các phương tiện hủy diệt, quản lý và bảo vệ khu Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, Yên Tử, Vườn quốc gia Bái Tử Long, khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, rừng phòng hộ hồ Yên Lập, hồ Cao Vân, bảo vệ nguồn nước.
Tăng cường năng lực quản lý môi trường trên địa bàn, xây dựng và củng bộ máy tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước về BVMT từ tỉnh đến cơ sở. Trong đó có một số đơn vị ngành than đã thành lập phòng quản lý môi trường như Công ty tuyển than Cửa Ông, Công ty CP than Núi Béo, Công ty CP than Cọc Sáu...
Qua 6 năm thực hiện Nghị quyết 41, công tác BVMT của tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Tuy nhiên, việc thi hành pháp luật BVMT chưa nghiêm minh. Ý thức tự giác bảo vệ và giữ gìn môi trường công cộng chưa trở thành thói quen trong cách sống của đại bộ phận dân cư. Môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn đang bị xuống cấp, chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; Không khí ở các đô thị, các khu tập trung dân cư bị ô nhiễm nặng, đặc biệt tại các khu vực lân cận các hoạt động khoáng sản.
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 41, tỉnh Quảng Ninh sẽ tập trung triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức và trách nhiệm về BVMT là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong giai đoạn 2010 - 2015 và những năm tiếp theo, cần huy động cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở tham gia, tạo dư luận xã hội, lên án nghiêm khắc các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Xây dựng tiêu chí, chuẩn mực về môi trường để đánh giá kết quả công tác BVMT là chỉ tiêu thi đua của toàn thể cán bộ, nhân dân tỉnh Quảng Ninh; Hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện nếp sống sạch, hợp vệ sinh, giữ gìn vệ sinh công cộng. Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào xanh - sạch - đẹp, vườn - ao - chuồng (VAC), rừng - vườn - ao - chuồng (RVAC), Tuần lễ Nước sạch và Vệ sinh môi trường, Gia đình văn hóa...; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và hướng dẫn việc thực hiện các quy định về BVMT, xử lý nghiêm minh các hành vi, vi phạm pháp luật về BVMT; Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện công tác BVMT từ tỉnh tới các địa phương do Chủ tịch UBND làm Trưởng ban; Chủ động phòng chống ô nhiễm và sự cố môi trường, khắc phục tình trạng suy thoái môi trường. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động, căn cứ vào kết quả quan trắc môi trường, tổ chức phân loại các cơ sở gây ô nhiễm và có kế hoạch xử lý phù hợp. Khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên. Tăng nhanh và ổn định tỷ lệ che phủ rừng, thực hiện nghiêm chỉnh lệnh đóng cửa rừng tự nhiên, bảo vệ rừng đi đôi với việc giải quyết định canh, định cư. Chấm dứt tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi gây lãng phí tài nguyên, hủy hoại rừng, suy thoái đất và ô nhiễm môi trường...; Tăng cường và đa dạng hóa đầu tư cho hoạt động BVMT; Tăng cường công tác quản lý nhà nước BVMT; Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo cán bộ làm công tác BVMT với các cấp trình độ, các loại ngành nghề đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Hoàng Việt Dũng
Chi cục trường Chi cục BVMT tỉnh Quảng Ninh
Tạp chí môi trường số 11