V
ườn Quốc gia Xuân Sơn là được chính thức chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên theo Quyết định số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Với diện tích tự nhiên là 33.687 ha (15.048 ha vùng lõi và 18.639 ha vùng đệm) trong đó diện tích rừng núi đá vôi chiếm khoảng 10%, độ che phủ chiếm 60,5%, VQG Xuân Sơn nằm trong dãy núi liên hoàn phía Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn.Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2008), VQG Xuân Sơn có giá trị cao về đa dạng sinh học (ĐDSH), trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm đang bị đe dọa ở cấp quốc gia và toàn cầu. Sự kết hợp của các yếu tố địa hình, địa chất, thủy văn đã tạo cho VQG Xuân Sơn đa dạng về các hệ sinh thái.
VQG Xuân Sơn có hệ thực vật khá phong phú với 180 họ, 680 chi, 1.217 loài được xác định, trong đó có 40 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Động vật hoang dã có xương sống trên cạn đã ghi nhận 76 loài thú, 182 loài chim, 44 loài bò sát, 27 loài ếch nhái. Côn trùng có 551 loài. Tuy nhiên, các loài có nguy cơ tuyệt chủng gồm có 29 loài thú, 21 loài chim, 21 loài bò sát và 2 loài ếch nhái có tến trong Sách Đỏ Việt Nam (2000)1 ...
Nguyên nhân là do những hoạt động săn bắt động vật, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc trái phép... của con người. Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi cần phải có những biện pháp quản lý hiệu quả.
Bên cạnh đó, sức ép từ dân cư trong và xung quanh Mặt khác, là rất lớn với 32.423 người dân đang sinh sống trong vùng đệm và vùng lõi. Phần lớn, họ đều là đồng bào các dân tộc thiểu số (90,07%). Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 44%, đặc biệt có 2 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% là xã Đồng Sơn (70,36%) và xã Xuân Sơn (50,6%). Đặc biệt, khu vực bảo tồn nghiêm ngặt của VQG Xuân Sơn tương đối nhỏ (15.048 ha) so với các Khu bảo tồn khác trong cả nước, nhưng lại có rất nhiều dân sinh sống định cư trong đó. Theo thống kê năm 2010, dân cư vùng lõi thuộc toàn bộ xã Xuân Sơn được chia thành 4 xóm với tổng dân số 1.042 người, hầu hết là người Mường, Dao, Tày, Nùng và chỉ có 1,54% người Kinh (16 người).
Từ những năm 50 của thế kỷ XX, tập trung hóa quy mô lớn trong phát triển, quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên nói chung và quản lý tài nguyên rừng nói riêng được thực hiện. Quản lý đất lâm nghiệp ở các vùng trung du và vùng cao ở miền Bắc Việt Nam được thực hiện theo hướng quốc hữu hóa. Quá trình tập trung hóa đã gây nên sự không thân thiện của người dân địa phương đối với phát triển, khai thác và chế biên lâm sản do sự chuyển dịch dòng lợi ích từ địa phương tới Trung ương. Tuy nhiên, hoạt động khai thác rừng trái phép của người dân vẫn tiếp tục tái diễn. Mô hình quản lý này vô hình chung làm giảm sự khích lệ đối với người dân địa phương trong việc bảo tồn tài nguyên, dẫn đến việc sử dụng tài nguyên không bền vững và mang tính phá hủy. Nhận thức được những hạn chế của lâm trường quốc doanh, những năm 90 đã có một sự chuyển dịch theo hướng chuyển một số tài nguyên rừng cho các hộ gia đình và các tổ chức địa phương thông qua chương trình giao đất lâm nghiệp. Từ đó đến nay, công tác quản lý tài nguyên rừng nói chung và công tác bảo tồn ĐDSH nói riêng đã hình thành, phát triển, từng bước bổ sung, hoàn thiện theo hướng xã hội hóa công tác bảo tồn, hợp tác quản lý và tăng cường trao quyền cho cộng đồng dân cư.
Ngay từ buổi đầu thành lập, công tác bảo tồn dựa vào cộng đồng là một nguyên tắc được Ban Quản lý VQG Xuân Sơn coi trọng. VQG phối kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương vận động bà con xây dựng thành công hương ước bảo vệ rừng. Từ đó đến nay, hương ước bảo vệ rừng đã được xây dựng thành công ở tất cả các thôn, bản vùng lõi (năm 2008), và một số thôn, bản ở các xã vùng đệm VQG Xuân Sơn. Đây là kết quả bước đầu của sự nghiệp xã hội hóa công tác bảo tồn tại VQG Xuân Sơn khi xây dựng trách nhiệm đến từng hộ gia đình - tế bào của xã hội.
Chủ tịch UBND xã Xuân Sơn, Bàn Xuân Lâm chia sẻ: "Trước khi VQG Xuân Sơn thành lập, bà con chủ yếu đi làm nương rẫy, có thời gian khó khăn quá còn phá rừng để bán. Nhưng từ khi thành lập VQG, nạn phá rừng đã giảm hẳn nhờ có sự phối hợp hoạt động thường xuyên giữa chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng đóng trên địa bàn. Đặc biệt là từ năm 2008, công tác bảo vệ rừng đã chặt chẽ hơn khi 100% hộ dân tự nguyện ký vào hương ước bảo vệ rừng, từ đó nạn phá rừng đã chấm dứt hoàn toàn"2.
Như vậy, quán triệt quan điểm dựa vào dân trong công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên ĐDSH ở VQG Xuân Sơn đã thu được những kết quả khả quan. Mô hình quản lý này đã chứng tỏ chính sách quản lý tài nguyên rừng đang được hoàn thiện và triển khai theo hướng tích cực. Nếu việc hương ước bảo vệ rừng được thực hiện rộng rãi thì không những tiết kiệm được chi phí quản lý thông qua huy động sức dân mà còn nâng cao được trách nhiệm của người dân đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước ■
1Trần Minh Hợi, Nguyễn Xuân Đặng (2008), Đa dạng sinh học và Bảo tồn nguồn gen sinh vật tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2 Nguồn phỏng vấn của tấc giả, tháng 03/2011.
NỘI DUNG CAM KẾT CỦA QUY ƯỚC BẢO VỆ RỪNG
- Tích cực tham gia vào bảo vệ và phát triển rừng, tham gia vào các tổ, đội tuần tra bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Không chặt phá, không tàng trữ, buôn bán, vận chuyển I lâm sản, săn bắn động vật rừng, phát nương, làm rẫy trái phép.
- Tích cực và tự nguyện tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng, không gây ra cháy rừng.
- Không chứa chấp các đối tượng từ địa phương khác đến cư trú, khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép.