Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 4, 23/5/2012, 14h:34:44
Mạng lưới quan trắc môi trường TP.Hồ Chí Minh
12/10/2009 9:53:40 AM
Công tác quan trắc và đánh giá chất lượng môi trường do Chi cục Bảo vệ Môi trường Tp.HCM thực hiện là một trong những công tác quan trọng nhất để quản lý chất lượng môi trường và tìm ra giải pháp khắc phục kịp thời các sự cố góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường.

1. Giới thiệu

• Công tác quan trắc và đánh giá chất lượng môi trường do Chi cục Bảo vệ Môi trường Tp.HCM thực hiện là một trong những công tác quan trọng nhất để quản lý chất lượng môi trường và tìm ra giải pháp khắc phục kịp thời các sự cố góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường.

• Công tác đánh giá chất lượng môi trường dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập từ mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường của Tp.HCM và các kết quả đo đạc trong các báo cáo môi trường.

2. Hệ thống quan trắc chất lượng môi trường ở Tp.HCM 

2.1 Các trạm quan trắc ô nhiễm không khí giao thông (quan trắc không khí bán tự động)

• Từ năm 1993, Tp.HCM đã đưa vào hoạt động hệ thống quan trắc chất lượng không khí do ảnh hưởng của hoạt động giao thông gồm 03 trạm: Vòng xoay Hàng Xanh, ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Điện Biên Phủ và vòng xoay Phú Lâm. Tháng 1/2005, hệ thống quan trắc mở rộng thêm 03 trạm gồm vòng xoay An Sương, ngã 6 Gò Vấp và ngã 4 Nguyễn Văn Linh – Huỳnh Tấn Phát. Đến tháng 02/2008 hệ thống quan trắc tiếp tục được mở rộng thêm 2 trạm là Khu công nghiệp Tân Bình và Tân Sơn Hòa (nằm trên trạm Quan trắc không khí tự động thuộc khuôn viên Viện Kỹ thuật Nhiệt Đới) nâng tổng số trạm quan trắc lên thành 8 trạm. (Bản đồ Vị trí các trạm Quan trắc Chất lượng Không khí) 

• Tần suất: Tiến hành thu mẫu 10 ngày trong tháng vào các thời điểm 7h30 – 8h30, 10h – 11h và 15h – 16h.

• Thông số đo đạc: N02, CO, chì, bụi tổng và tiếng ồn. 

• Nhận thấy ảnh hưởng của các chất ô nhiễm phát ra từ quá trình đốt cháy xăng dầu đến sức khoẻ con người ngày càng nhiều, từ tháng 1/2005 hệ thống quan trắc ô nhiễm không khí giao thông quan trắc bổ sung thêm các thông số Benzen, Toluen và Xylen ở 6 trạm: Trung tâm (TT) Bảo vệ Sức khoẻ Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, TT Y tế Dự phòng, Bệnh viện Thống Nhất, Trường THPT Hồng Bàng, Phòng GD Huyện Bình Chánh với tần suất 7ngày/1lần/tháng.

2.2 Các trạm quan trắc chất lượng không khí tự động 

• Tháng 6/2000, được sự tài trợ của UNDP và DANIDA, hệ thống quan trắc chất lượng không khí tự động đưa vào hoạt động 04 trạm, trong đó có 02 trạm quan trắc chất lượng không khí xung quanh (Tân Sơn Hòa – 56 Trương Quốc Dung và Thủ Đức) và 02 trạm quan trắc chất lượng không khí ven đường (Sở KH&CN – 244 Điện Biên Phủ và Trường THPT Hồng Bàng – Quận 5). Đến tháng 11/2002, được sự tài trợ của NORAD, hệ thống quan trắc phát triển thêm 05 trạm gồm 03 trạm đo không khí xung quanh (UBND Quận 2, Công viên Phần mềm Quang Trung, Thảo Cầm Viên) và 02 trạm đo không khí ven đường (Bệnh viện Thống Nhất – Q. Tân Bình, Phòng GD Huyện Bình Chánh – Q. Bình Tân). 

• Tần suất: Đo liên tục 24/24 giờ

• Thông số đo đạc: PM10, SO2, NOx, CO, O3.

Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng không khí 

2.3 Các trạm quan trắc thủy văn

Bản đồ vị trí các trạm quan trắc thủy văn

 
• Từ năm 1993, Tp.HCM có 6 trạm quan trắc thủy văn tương ứng với 6 trạm quan trắc chất lượng môi trường nước mặt: Bến Than, Bình Phước, Nhà Rồng (sông Sài Gòn), Nhà Bè (sông Nhà Bè), Hoá An (sông Đồng Nai) và Bình điền (sông Chợ Đệm). Năm 1998, bổ sung thêm 2 trạm Lý‎ Nhơn (sông Soài Rạp) và Tam Thôn Hiệp (sông Lòng Tàu). Tháng 01/2005 mở rộng thêm 02 trạm: Cát Lái (Sông Đồng Nai) và trạm Vàm Cỏ (cửa sông Vàm Cỏ). Đến tháng 03/2007, hệ thống quan trắc thủy văn tiếp tục mở rộng thêm 05 trạm quan trắc gồm: Bến Súc, Thị Tính, Đồng Tranh, Ngã Bảy và Cái Mép, nâng số trạm quan trắc thủy văn lên thành 15 trạm.

• Tần suất: Đo liên tục trong 48 giờ, mỗi tháng 1 đợt vào một trong hai kỳ nước cường nhất trong tháng.

• Thông số đo đạc: Mặt cắt ngang, mực nước từng giờ (24/24), tốc độ dòng chảy ở 2 tầng nước, tính lưu lượng, dẫn mốc cao độ Quốc gia về các điểm đo mực nước và mặt cắt ngang.

2.4 Các trạm quan trắc nước mặt

• Từ năm 1993, hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt tại Tp.HCM đã có 6 trạm đi vào hoạt động gồm: Bến Than (Phú Cường), Bình Phước, Nhà Rồng (sông Sài Gòn), Nhà Bè (sông Nhà Bè), Hoá An (sông Đồng Nai) và Bình Điền (sông Chợ Đệm). Đến năm 1997, hệ thống quan trắc mở rộng thêm 02 trạm Lý‎ Nhơn (sông Soài Rạp) và Tam Thôn Hiệp (sông Lòng Tàu). Tháng 01/2005, hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt của thành phố mở rộng thêm 02 trạm: Cát Lái (trên sông Đồng Nai) và trạm cửa sông Vàm Cỏ (trên sông Vàm Cỏ) nâng tổng số trạm lên 10 trạm. Từ tháng 11/2006 tiếp tục mở rộng thêm hai trạm Thị Tính và Bến Củi (sông Sài Gòn) và cuối cùng đến tháng 3/2007, hệ thống quan trắc nước mặt mở rộng thêm 08 trạm bao gồm: Bến Súc, Rạch Tra (sông Sài Gòn), Thầy Cai (Tân Thái – kênh Thầy Cai), N46 (Kênh N46 thuộc hệ thống kênh Đông) và các trạm cửa sông là Đồng Tranh, Ngã Bảy, Cái Mép nâng tổng số trạm quan trắc nước mặt của Tp.HCM lên thành 20 trạm và đi vào hoạt động ổn định.

• Tần suất: Tiến hành lấy mẫu thường kỳ vào các ngày 01-08-15-22 hàng tháng và mẫu được lấy vào hai thời điểm trong ngày ứng với lúc triều cao nhất và triều thấp nhất (đỉnh cao nhất, chân thấp nhất).

• Thông số đo đạc: pH, EC, DO, độ đục, TSS, BOD5, độ kềm, tổng N, tổng P, Pb, Hg, Cd, Cu, thuốc trừ sâu, dầu mỡ, E. Coli và Coliform.
Bản đồ vị trí các trạm quan trắc nước mặt

Bản đồ vị trí các trạm quan trắc nước mặt

2.5 Các trạm quan trắc nước kênh rạch

Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành

• Năm 2001, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường nước của TP.HCM bổ sung 10 trạm quan trắc chất lượng của các kênh rạch chính trong nội thành gồm: Cầu Tham Lương, Cầu An Lộc (Tham Lương - Bến Cát – Vàm Thuật), Cầu Lê Văn Sỹ, Cầu Điện Biên Phủ (Nhiêu Lộc - Thị Nghè), Cầu Chà Và, Cầu Nhị Thiên Đường, Bến Phú Định, Rạch Ruột Ngựa (Bến Nghé - Tàu Hủ – Đôi - Tẻ), Cầu Ông Buông, Cầu Hoà Bình (Tân Hoá - Lò Gốm).

• Tần suất: 02 lần trong năm vào mùa khô (tháng 4) và mùa mưa (tháng 9). Từ tháng 01/2005, quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành tăng tần suất từ 02 lần lên 04 lần/năm.

• Thông số đo đạc: pH, EC, DO, độ đục, TSS, BOD5, COD, độ kềm, tổng N, tổng P, Pb, Cr, Cd, Cu, H2S, E. Coli và Coliform.

2.6 Các trạm quan trắc nước ngầm

Bản đồ vị trí các trạm quan trắc nước ngầm

• Hệ thống quan trắc nước ngầm tầng nông khu vực Tp. Hồ Chí Minh do Chi cục Bảo vệ môi trường Tp. Hồ Chí Minh quản lý gồm 11 trạm bắt đầu hoạt động quan trắc từ năm 2001. Các trạm quan trắc này là: Đông Thạnh, Gò Cát, Linh Xuân, Trường Thọ, Đông Hưng Thuận, Gò Vấp, Phú Nhuận, Bàu Cát, Phú Thọ, Tân Tạo, Bình Hưng. Trong đó, có 5 trạm cùng vị trí với các trạm do Phòng Quản lý Tài nguyên nước và khoáng sản – Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý (khác tầng quan trắc) là các trạm Linh Xuân, Phú Thọ, Phú Nhuận, Tân Tạo và Bình Hưng. Từ năm 2007, Chi cục Bảo vệ môi trường tiếp mạng quan trắc nước dưới đất từ Phòng Quản lý Tài nguyên nước và khoáng sản thêm 5 trạm mới là các trạm: Tân Phú Trung, Thới Tam Thôn, Tân Chánh Hiệp, Tân Sơn Nhất, Long Thạnh Mỹ và Thạnh Mỹ Lợi.

• Tần suất

- Quan trắc mực nước: bằng thiết bị logger đo mực nước tự động với chế độ ghi 60phút/lần (10 trạm) và đo mực nước hàng tháng bằng thiết bị đo tay Tiến hành lấy mẫu 03 tháng/lần trong 1 năm

- Quan trắc chất lượng nước: 3 tháng/lần trong năm

• Thông số đo đạc: pH, T0C, EC, TDS, Cl-, độ cứng, NO3-, NH4+, TOC, kim loại nặng (Pb, Cu, Zn, Ni, Cr, Cd, Hg, Al, Fe, As), CN-, P, PO42-, SO42-, và tổng Coliform, Fecal Coliform

2.7 Quan trắc nước biển ven bờ

Bản đồ vị trí các trạm quan trắc nước ngầm

 
• Hệ thống các trạm quan trắc chất lượng nước biển ven bờ bao gồm 03 trạm là Đồng Hòa, Lòng Tàu và Cần Thạnh với 09 vị trí thu mẫu: Cửa sông Đồng Tranh, Cửa sông Lòng Tàu, Cửa sông Cái Mép, Bãi Cần Thạnh, Bãi 30/4, Bãi Đồng Hòa, Công viên Cần Thạnh, Khu du lịch 30/4 và Khu du lịch Hòn Ngọc Phương Nam.

• Tần suất: 1 tháng 1 lần

• Thông số đo đạc

- Nước biển ven bờ: nhiệt độ, pH, độ mặn, độ trong, độ kiềm, N-NH3, N-NO2, N-NO3, DO, COD, BOD5, Fe ++, Fe tổng, H2S, Photphat, kim lọai nặng (Pb, Cd, Cu, Hg, As, Va, Ni), dầu khoáng, PCBs, PAHs, Vi sinh vật (Vibrio, Coliform).
- Trầm tích đáy: kim loại nặng (Pb, Cd, Cu, Hg, As, Va, Ni), vi sinh vật (Vibrio, Coliform), dầu khoáng.
- Đa dạng sinh học: Tảo, sinh vật nổi, sinh vật đáy.

3. Định hướng phát triển hệ thống quan trắc chất lượng môi trường ở Tp.HCM (2006 – 2010)

3.1 Phát triển hệ thống quan trắc chất lượng nước tự động.

Để hệ thống quan trắc và đánh giá chất lượng môi trường phục vụ cho công tác quản lý chất lượng môi trường và tìm ra giải pháp khắc phục kịp thời các sự cố được tốt hơn, Chi cục Bảo vệ Môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường Tp.HCM có kế hoạch phát triển hệ thống quan trắc chất lượng nước tự động. Trong Kế hoạch 5 năm (2006 – 2010) của Phòng Quan trắc và Đánh giá Chất lượng Môi trường – Chi cục Bảo vệ Môi trường dự kiến xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước sông chính và kênh rạch ở Tp.HCM gồm 22 trạm với tổng kinh phí khoảng 6 tỷ đồng. 

3.2 Phát triển hệ thống quan trắc thủy sinh 

• Để đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế đến hệ sinh thái thủy sinh và xu hướng biến đổi của các quần xã sinh vật thủy sinh, cùng trong giai đoạn này Chi cục Bảo vệ Môi trường dự kiến thiết lập thêm hệ thống quan trắc hệ sinh thái thủy sinh. 

• Thông số quan trắc: Thực vật phiêu sinh, động vật phiêu sinh, động vật không xương sống cỡ lớn, thực vật lớn thủy sinh và cá.

Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung